MathLabs

Bài 3

Gọi A(n)A(n) là số dãy a1≥a2≥⋯≥aka_1\ge a_2\ge\cdots\ge a_k các số nguyên dương sao cho a1+⋯+ak=na_1+\cdots+a_k=n và mỗi ai+1a_i+1 là một lũy thừa của hai (i=1,2,…,ki=1,2,\ldots,k). Gọi B(n)B(n) là số dãy b1≥b2≥⋯≥bmb_1\ge b_2\ge\cdots\ge b_m các số nguyên dương sao cho b1+⋯+bm=nb_1+\cdots+b_m=n và mỗi bất đẳng thức bj≥2bj+1b_j\ge2b_{j+1} đúng (j=1,2,…,m−1j=1,2,\ldots,m-1). Chứng minh rằng A(n)=B(n)A(n)=B(n) với mọi số nguyên dương nn.
Bước 1 trên 4: Khai triển một dãy kiểu AA thành mảng canh trái
ai=2Ni−1+2Ni−2+⋯+21+20a_i=2^{N_i-1}+2^{N_i-2}+\cdots+2^1+2^0
Phân tích chi tiết

Gọi một dãy là kiểu AA nếu mỗi số hạng thỏa ai+1=2Nia_i+1=2^{N_i} với một số nguyên dương NiN_i nào đó, và là kiểu BB nếu bj≥2bj+1b_j\ge2b_{j+1} với các số hạng liên tiếp. Cho một dãy kiểu AA là a1≥⋯≥aka_1\ge\cdots\ge a_k, khai triển mỗi ai=2Ni−1+⋯+21+20a_i=2^{N_i-1}+\cdots+2^1+2^0 dùng đẳng thức 2N−1=2N−1+⋯+2+12^{N}-1=2^{N-1}+\cdots+2+1, và viết các lũy thừa hai này thành một mảng canh trái với hàng ii chứa khai triển của aia_i; các hàng có độ dài không tăng vì a1≥⋯≥aka_1\ge\cdots\ge a_k.