MathLabs

Lớp 11

Quy nạp toán học

Chứng minh mệnh đề với mọi số tự nhiên qua bước cơ sở và bước quy nạp, quy nạp mạnh, nguyên lý sắp thứ tự tốt và giới hạn của quy nạp.

Hãy tưởng tượng một hàng quân domino dài vô hạn dựng thẳng đứng. Làm sao chắc chắn mọi quân đều đổ? Chỉ cần hai điều: (1) ta đẩy đổ quân đầu tiên, và (2) hễ một quân nào đổ thì nó đứng đủ gần để làm đổ quân tiếp theo. Quy nạp toán học chính là dây chuyền domino này được biến thành phương pháp chứng minh chặt chẽ cho các mệnh đề với mọi số tự nhiên n=1,2,3,…n = 1, 2, 3, \dots.

Phổ thôngNguyên lý quy nạp toán học

Cho P(n)P(n) là một mệnh đề phụ thuộc vào số nguyên dương nn. Nếu (1) bước cơ sở: P(1)P(1) đúng, và (2) bước quy nạp: với mọi số nguyên k≥1k \ge 1, giả sử P(k)P(k) đúng (giả thiết quy nạp) kéo theo P(k+1)P(k+1) cũng đúng, thì P(n)P(n) đúng với mọi số nguyên n≥1n \ge 1.

Vì sao đúng?

Từ P(1)P(1) và kéo theo P(1)⇒P(2)P(1) \Rightarrow P(2) ta có P(2)P(2); từ P(2)P(2) và P(2)⇒P(3)P(2) \Rightarrow P(3) ta có P(3)P(3); cứ thế mãi, chạm tới bất kỳ số nguyên nn nào sau hữu hạn bước. Trong số học tiên đề (hệ tiên đề Peano), quy nạp là một trong các tiên đề định nghĩa tập số tự nhiên.

Chứng minh

Giả sử P(1)P(1) đúng và với mọi số nguyên k≥1k \ge 1, mệnh đề kéo theo P(k)⇒P(k+1)P(k) \Rightarrow P(k+1) đúng. Để chứng minh P(n)P(n) đúng với mọi n≥1n \ge 1, giả sử phản chứng rằng tập hợp các phản ví dụ S={n∈Z≥1:P(n) is false}S = \{n \in \mathbb{Z}_{\ge 1} : P(n) \text{ is false}\} khác rỗng.

Theo nguyên lý sắp thứ tự tốt của tập số nguyên dương Z≥1\mathbb{Z}_{\ge 1}, tập con khác rỗng SS có một phần tử nhỏ nhất m=min⁡S≥1m = \min S \ge 1. Vì P(1)P(1) đúng theo giả thiết bước cơ sở nên 1∉S1 \notin S, suy ra m≥2m \ge 2 và do đó m−1≥1m - 1 \ge 1.

Vì m−1<mm - 1 < m và mm là phần tử nhỏ nhất của SS, ta phải có m−1∉Sm - 1 \notin S, nghĩa là P(m−1)P(m-1) đúng. Áp dụng bước quy nạp với k=m−1≥1k = m - 1 \ge 1 ta được P(m−1)⇒P(m)P(m-1) \Rightarrow P(m), nên P(m)P(m) đúng. Điều này mâu thuẫn với m∈Sm \in S, chứng tỏ S=∅S = \varnothing và vì vậy P(n)P(n) đúng với mọi n≥1n \ge 1.

(P(1)  ∧  ∀k≥1,  (P(k)⇒P(k+1)))  ⟹  ∀n≥1,  P(n)\bigl(P(1) \;\wedge\; \forall k \ge 1,\; (P(k) \Rightarrow P(k+1))\bigr) \;\Longrightarrow\; \forall n \ge 1,\; P(n)

Ví dụ: Tổng n số nguyên dương đầu tiên

Chứng minh rằng với mọi số nguyên n≥1n \ge 1, 1+2+⋯+n=n(n+1)21 + 2 + \cdots + n = \frac{n(n+1)}{2}.

Lời giải

**Bước cơ sở (n=1n = 1):** Vế trái bằng 11, vế phải bằng 1(1+1)2=1\frac{1(1+1)}{2} = 1, vậy P(1)P(1) đúng.

Bước quy nạp: Giả sử P(k)P(k) đúng với một k≥1k \ge 1 nào đó, tức là 1+2+⋯+k=k(k+1)21 + 2 + \cdots + k = \frac{k(k+1)}{2}. Cộng k+1k + 1 vào hai vế, ta được 1+2+⋯+k+(k+1)=k(k+1)2+(k+1)=(k+1)(k2+1)=(k+1)(k+2)21 + 2 + \cdots + k + (k+1) = \frac{k(k+1)}{2} + (k+1) = (k+1)\left(\frac{k}{2} + 1\right) = \frac{(k+1)(k+2)}{2}, chính là P(k+1)P(k+1). Theo nguyên lý quy nạp toán học, công thức đúng với mọi n≥1n \ge 1.

∑j=1nj2=12+22+⋯+n2=n(n+1)(2n+1)6=13n3+12n2+16n\sum_{j=1}^{n} j^2 = 1^2 + 2^2 + \cdots + n^2 = \frac{n(n+1)(2n+1)}{6} = \frac{1}{3}n^3 + \frac{1}{2}n^2 + \frac{1}{6}n
Widget tổng Riemann tương tác hiển thị n hình chữ nhật tích lũy từng bước dưới đường cong.
Trực quan hóa tổng rời rạc và diện tích liên tục: điều chỉnh số hình chữ nhật nn để so sánh tổng bậc thang ∑j=1nj2=n(n+1)(2n+1)6\sum_{j=1}^{n} j^2 = \frac{n(n+1)(2n+1)}{6} với tích phân ∫0nx2 dx=n33\int_0^n x^2\,dx = \frac{n^3}{3}, minh họa cách mỗi bước quy nạp cộng thêm cột diện tích tiếp theo (k+1)2(k+1)^2.

Ví dụ: Một bất đẳng thức mũ

Chứng minh rằng 2n>n2^n > n với mọi số nguyên n≥1n \ge 1.

Lời giải

**Bước cơ sở (n=1n = 1):** 21=2>12^1 = 2 > 1, đúng.

Bước quy nạp: Giả sử 2k>k2^k > k với một k≥1k \ge 1 nào đó. Nhân hai vế với 22, ta được 2k+1=2⋅2k>2k=k+k≥k+12^{k+1} = 2 \cdot 2^k > 2k = k + k \ge k + 1 (vì k≥1k \ge 1). Do đó 2k+1>k+12^{k+1} > k + 1, hoàn tất phép quy nạp.

Đại họcQuy nạp mạnh và nguyên lý sắp thứ tự tốt

Định nghĩa: Quy nạp mạnh (quy nạp đầy đủ)

Để chứng minh P(n)P(n) với mọi n≥n0n \ge n_0, chỉ cần kiểm tra P(n0)P(n_0) và chứng minh rằng với mọi k≥n0k \ge n_0, nếu tất cả P(n0),P(n0+1),…,P(k)P(n_0), P(n_0+1), \dots, P(k) đều đúng thì P(k+1)P(k+1) đúng. Dù mang tên quy nạp mạnh, nó tương đương logic với quy nạp thường: chỉ cần áp dụng quy nạp thường cho mệnh đề gộp Q(n)=P(n0)∧P(n0+1)∧⋯∧P(n)Q(n) = P(n_0) \wedge P(n_0+1) \wedge \cdots \wedge P(n).

Cho P(n)P(n) là mệnh đề với các số nguyên n≥n0n \ge n_0. Nếu P(n0)P(n_0) đúng và với mọi số nguyên k≥n0k \ge n_0, giả thiết kéo theo (P(n0)∧⋯∧P(k))⇒P(k+1)\bigl(P(n_0) \wedge \cdots \wedge P(k)\bigr) \Rightarrow P(k+1) đúng, thì P(n)P(n) đúng với mọi số nguyên n≥n0n \ge n_0. Hơn nữa, quy nạp mạnh, quy nạp thường và nguyên lý sắp thứ tự tốt tương đương logic với nhau.

Vì sao đúng?

Quy nạp mạnh cho phép ta sử dụng bất kỳ trường hợp trước đó P(j)P(j) nào với n0≤j≤kn_0 \le j \le k (chẳng hạn a,b≤ka, b \le k khi phân tích k+1=abk+1 = a b hoặc P(k−1)P(k-1) và P(k)P(k) trong hệ thức truy hồi Fibonacci) mà không cần thêm tiên đề nào ngoài quy nạp thường.

Chứng minh

Đưa về quy nạp thường: Cho vị từ P(n)P(n) với n≥n0n \ge n_0, định nghĩa mệnh đề hội tích lũy Q(n)≡P(n0)∧P(n0+1)∧⋯∧P(n)Q(n) \equiv P(n_0) \wedge P(n_0+1) \wedge \cdots \wedge P(n). Tại chỉ số cơ sở n=n0n = n_0, mệnh đề Q(n0)Q(n_0) chỉ có một hạng tử P(n0)P(n_0), đúng theo giả thiết cơ sở của quy nạp mạnh.

**Bước quy nạp cho Q(k)Q(k):** Cố định số nguyên k≥n0k \ge n_0 và giả sử Q(k)Q(k) đúng. Theo định nghĩa của Q(k)Q(k), tất cả các mệnh đề P(n0),P(n0+1),…,P(k)P(n_0), P(n_0+1), \dots, P(k) đều đúng. Giả thiết bước quy nạp mạnh (P(n0)∧⋯∧P(k))⇒P(k+1)\bigl(P(n_0) \wedge \cdots \wedge P(k)\bigr) \Rightarrow P(k+1) khi đó suy ra P(k+1)P(k+1) cũng đúng.

Kết luận: Kết hợp Q(k)Q(k) với P(k+1)P(k+1) ta chứng minh được Q(k+1)≡Q(k)∧P(k+1)Q(k+1) \equiv Q(k) \wedge P(k+1). Áp dụng nguyên lý quy nạp toán học thông thường cho Q(n)Q(n), mệnh đề Q(n)Q(n) đúng với mọi số nguyên n≥n0n \ge n_0; nói riêng, hạng tử cuối P(n)P(n) đúng với mọi n≥n0n \ge n_0.

Ví dụ: Sự tồn tại phân tích thừa số nguyên tố

Chứng minh rằng mọi số nguyên n≥2n \ge 2 hoặc là số nguyên tố, hoặc là tích của các số nguyên tố.

Lời giải

**Bước cơ sở (n=2n = 2):** 22 là số nguyên tố.

Bước quy nạp mạnh: Cố định k≥2k \ge 2 và giả sử mọi số nguyên mm với 2≤m≤k2 \le m \le k đều là số nguyên tố hoặc tích các số nguyên tố. Xét k+1k + 1. Nếu k+1k + 1 nguyên tố thì xong. Ngược lại, k+1=abk + 1 = a b với các số nguyên a,ba, b thỏa 2≤a,b≤k2 \le a, b \le k. Quy nạp thường không giúp được vì aa và bb không bằng kk, chỉ ≤k\le k. Theo giả thiết quy nạp mạnh, cả aa và bb đều là tích các số nguyên tố, nên tích của chúng k+1=abk + 1 = a b cũng là tích các số nguyên tố.

Định nghĩa: Nguyên lý sắp thứ tự tốt

Mọi tập con khác rỗng S⊆NS \subseteq \mathbb{N} của các số nguyên dương đều có một phần tử nhỏ nhất m∈Sm \in S sao cho m≤xm \le x với mọi x∈Sx \in S.

Nguyên lý sắp thứ tự tốt, quy nạp thường và quy nạp mạnh là ba diện mạo của cùng một nguyên lý. Để suy ra quy nạp từ sắp thứ tự tốt, giả sử P(1)P(1) đúng và P(k)⇒P(k+1)P(k) \Rightarrow P(k+1) với mọi k≥1k \ge 1, nhưng P(n)P(n) vẫn sai với một nn nào đó. Khi đó tập các phản ví dụ S={n≥1:P(n) is false}S = \{n \ge 1 : P(n) \text{ is false}\} khác rỗng, nên theo nguyên lý sắp thứ tự tốt nó có phần tử nhỏ nhất mm. Không thể có m=1m = 1 vì P(1)P(1) đúng; do đó m−1≥1m - 1 \ge 1 không thuộc SS, nghĩa là P(m−1)P(m-1) đúng. Theo bước quy nạp, P(m)P(m) cũng phải đúng, mâu thuẫn với m∈Sm \in S. Cách trình bày này thường gọi là phương pháp phản ví dụ nhỏ nhất.

Nâng caoQuy nạp hình học: Lát bảng bằng quân tromino

Ví dụ: Bài toán lát tromino của Golomb (1954)

Một quân L-tromino là mảnh ghép gồm 33 ô vuông đơn vị xếp hình chữ L. Chứng minh rằng với mọi số nguyên n≥1n \ge 1, bất kỳ bàn cờ 2n×2n2^n \times 2^n nào bị khuyết một ô tùy ý đều lát kín được bằng các quân L-tromino không chồng lên nhau.

Lời giải

Lưu ý rằng việc phát biểu mạnh hơn cho bất kỳ ô khuyết nào (chứ không riêng ô ở góc) chính là chìa khóa để quy nạp chạy được. **Bước cơ sở (n=1n = 1):** Bỏ một ô bất kỳ khỏi bàn 2×22 \times 2 sẽ còn lại hình chữ L gồm 33 ô, đặt vừa khít 11 quân tromino.

Bước quy nạp: Giả sử mệnh đề đúng cho bàn 2k×2k2^k \times 2^k. Chia bàn 2k+1×2k+12^{k+1} \times 2^{k+1} (đã khuyết một ô) thành bốn góc phần tư kích thước 2k×2k2^k \times 2^k. Ô khuyết nằm ở một góc phần tư. Đặt một quân L-tromino ngay tâm bàn cờ sao cho 33 ô của nó che mỗi góc phần tư còn lại đúng một ô ở góc tâm. Khi đó cả bốn bàn con 2k×2k2^k \times 2^k đều khuyết đúng một ô, nên theo giả thiết quy nạp cả bốn đều lát kín được.

Nghiên cứuNhững cạm bẫy tinh vi và giới hạn của quy nạp

Vì sao không phải mệnh đề đúng nào về số nguyên cũng chứng minh được ngay bằng quy nạp theo nn? Một ví dụ điển hình là giả thuyết Collatz (`collatz-conjecture`, nêu năm 1937): xuất phát từ số nguyên dương nn bất kỳ, lặp lại quy tắc thay số chẵn xx bằng x/2x/2 và thay số lẻ xx bằng 3x+13x + 1; giả thuyết khẳng định quỹ đạo luôn chạm tới 11. Nếu thử quy nạp mạnh theo nn, số chẵn 2k2k giảm ngay về k<2kk < 2k nên dùng được giả thiết quy nạp—nhưng số lẻ 2k+12k + 1 lại nhảy vọt lên 6k+4>2k+16k + 4 > 2k + 1, vượt ra ngoài phạm vi mà giả thiết quy nạp P(1),…,P(2k+1)P(1), \dots, P(2k+1) bao phủ.

Trong chứng minh quy nạp toán học cho mệnh đề P(n)P(n) với mọi n≥1n \ge 1, bước quy nạp phải chứng minh điều gì?

Chứng minh quy nạp ngụy biện của Pólya rằng "mọi con ngựa đều cùng màu" bị gãy ở đâu?

Quy nạp mạnh khác quy nạp thường ở điểm nào?

Vì sao quy nạp mạnh ngây thơ theo nn không chứng minh được giả thuyết Collatz?

Tài liệu tham khảo

  1. Florian Cajori (1918). Origin of the Name 'Mathematical Induction' · DOI:10.1080/00029890.1918.11998404
  2. Solomon W. Golomb (1954). Checkerboards and Polyominoes · DOI:10.1080/00029890.1954.11988548
  3. David Bařina (2021). Convergence verification of the Collatz problem · DOI:10.1007/s11227-020-03368-x