MathLabs
Định lýĐã chứng minh

Bổ đề Neyman–Pearson

Phát biểu

Xét kiểm định giả thuyết không đơn giản H0:θ=θ0H_0: \theta = \theta_0 đối lại giả thuyết đối đơn giản H1:θ=θ1H_1: \theta = \theta_1, dựa trên dữ liệu với hàm hợp lý L(θ)L(\theta). Cho k≥0k \geq 0 là một hằng số và CC là miền bác bỏ C={x:L(θ1)>k L(θ0)}C = \{x : L(\theta_1) > k \, L(\theta_0)\}, chọn sao cho P(C∣H0)=αP(C \mid H_0) = \alpha. Khi đó trong số mọi phép kiểm định có mức ý nghĩa không vượt quá α\alpha, phép kiểm định với miền bác bỏ CC có lực lớn nhất tại θ1\theta_1.

Vì sao đúng?

Bác bỏ khi tỉ số hợp lý L(θ1)/L(θ0)L(\theta_1)/L(\theta_0) lớn nghĩa là bác bỏ đúng trên những kết cục tương đối phù hợp nhất với θ1\theta_1 so với θ0\theta_0; dùng "ngân sách" cố định α\alpha của rủi ro dương tính giả vào những kết cục đó, thay vì bất kỳ kết cục nào khác, mua được lượng lực phát hiện dương tính thật lớn nhất có thể.

Phác thảo chứng minh

Bước 1 (thiết lập một phép kiểm định cạnh tranh bất kỳ): cho CC là miền bác bỏ theo tỉ số hợp lý trong phát biểu, với hàm chỉ báo ϕC\phi_C, và cho DD là miền bác bỏ của bất kỳ phép kiểm định nào khác với P(D∣H0)≤αP(D \mid H_0) \leq \alpha, với hàm chỉ báo ϕD\phi_D. Ta cần chỉ ra lực tại θ1\theta_1 thỏa P(C∣H1)≥P(D∣H1)P(C \mid H_1) \geq P(D \mid H_1).

Bước 2 (một bất đẳng thức điểm-theo-điểm then chốt): với mọi kết cục xx, đại lượng (ϕC(x)−ϕD(x))⋅(L(θ1)−k L(θ0))(\phi_C(x) - \phi_D(x)) \cdot (L(\theta_1) - k \, L(\theta_0)) không bao giờ âm. Thật vậy, nếu x∈Cx \in C thì L(θ1)>k L(θ0)L(\theta_1) > k \, L(\theta_0) và ϕC(x)−ϕD(x)≥0\phi_C(x) - \phi_D(x) \geq 0 vì ϕC(x)=1\phi_C(x) = 1; nếu x∉Cx \notin C thì L(θ1)≤k L(θ0)L(\theta_1) \leq k \, L(\theta_0) và ϕC(x)−ϕD(x)≤0\phi_C(x) - \phi_D(x) \leq 0 vì ϕC(x)=0\phi_C(x) = 0; trong cả hai trường hợp tích của hai thừa số là ≥0\geq 0.

Bước 3 (lấy tổng bất đẳng thức): cộng (hay lấy tích phân) đại lượng không âm này trên mọi kết cục xx cho ∑x(ϕC(x)−ϕD(x)) L(θ1)−k∑x(ϕC(x)−ϕD(x)) L(θ0)≥0\sum_x (\phi_C(x) - \phi_D(x)) \, L(\theta_1) - k \sum_x (\phi_C(x) - \phi_D(x)) \, L(\theta_0) \geq 0, viết lại thành (P(C∣H1)−P(D∣H1))−k(P(C∣H0)−P(D∣H0))≥0\big(P(C \mid H_1) - P(D \mid H_1)\big) - k \big(P(C \mid H_0) - P(D \mid H_0)\big) \geq 0.

Bước 4 (dùng các mức ý nghĩa để kết luận): theo cách dựng P(C∣H0)=αP(C \mid H_0) = \alpha, và theo giả thiết P(D∣H0)≤αP(D \mid H_0) \leq \alpha, nên P(C∣H0)−P(D∣H0)≥0P(C \mid H_0) - P(D \mid H_0) \geq 0; vì k≥0k \geq 0, trừ đi kk lần một đại lượng không âm ở dấu ngoặc đầu của Bước 3 chỉ làm bất đẳng thức mạnh thêm P(C∣H1)−P(D∣H1)≥k(P(C∣H0)−P(D∣H0))≥0P(C \mid H_1) - P(D \mid H_1) \geq k \big(P(C \mid H_0) - P(D \mid H_0)\big) \geq 0, nên P(C∣H1)≥P(D∣H1)P(C \mid H_1) \geq P(D \mid H_1), như cần chứng minh.

Chủ đề chứa định lý này

Chứng minh từng bước

Chưa có chứng minh từng bước cho định lý này.