Nền tảng toán học
Lý thuyết mô hình
Lý thuyết mô hình nghiên cứu các cấu trúc toán học thông qua các câu bậc một mà chúng thỏa mãn, . Hai định lý nền tảng của nó — Compactness (tính compact) và Löwenheim–Skolem — chi phối những tập hợp cấu trúc nào có thể cùng chia sẻ một lý thuyết, với các ứng dụng từ thủ tục quyết định của Tarski cho trường đóng thực tới giải tích phi chuẩn và tính o-tối tiểu.
Trực giácĐiều gì được coi là một "mô hình" của một lý thuyết?
Các tiên đề của lý thuyết nhóm ("có phần tử đơn vị", "mọi phần tử đều có nghịch đảo", ...) không mô tả một nhóm cụ thể — chúng mô tả một lớp các cấu trúc: thỏa mãn chúng, và cũng vậy, và bất kỳ nhóm đối xứng nào cũng vậy. Một cấu trúc là một tập (miền) cùng với cách diễn giải các hằng, hàm, quan hệ của một ngôn ngữ; nó là một mô hình của một lý thuyết nếu nó làm mọi tiên đề đúng. Lý thuyết mô hình nghiên cứu cấu trúc từ bên ngoài, hỏi: câu nào phân biệt được chúng, và cấu trúc nào âm thầm không thể phân biệt được chỉ bằng câu bậc một?
Đại họcCấu trúc và quan hệ thỏa mãn Tarski
Định nghĩa: Cấu trúc bậc một và quan hệ thỏa mãn
Một cấu trúc cho ngôn ngữ là : một miền khác rỗng cùng với diễn giải của mọi ký hiệu hằng, hàm, quan hệ của (ví dụ ký hiệu được diễn giải thành một thứ tự thực sự trên ). Với một câu của , quan hệ thỏa mãn Tarski (" thỏa mãn ", hay " đúng trong ") được định nghĩa bằng đệ quy theo cấu trúc của : công thức nguyên tử được kiểm trực tiếp trên các quan hệ đã diễn giải, theo bảng chân trị, và , lượng hóa trên các phần tử của . Hai cấu trúc tương đương sơ cấp, viết , nếu chúng thỏa mãn đúng cùng các câu của .
Một khái niệm liên quan nhưng mạnh hơn là mô hình con sơ cấp: nghĩa là như một cấu trúc , và hơn nữa mọi công thức với tham số trong được thỏa mãn trong đúng khi nó được thỏa mãn trong — không chỉ với câu, mà với công thức có biến tự do được thay bằng phần tử của . Đây là quan hệ then chốt dùng trong xây dựng Löwenheim–Skolem bên dưới.
| Quan hệ | Định nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đẳng cấu | Một song ánh bảo toàn mọi hàm/quan hệ | |
| Tương đương sơ cấp | Cùng câu bậc một đúng, miền có thể khác kích thước | và phi chuẩn |
| Mô hình con sơ cấp | Cấu trúc con khớp với cấu trúc mẹ trên mọi công thức có tham số | Một bản sao đếm được của mô hình không đếm được |
Nâng caoHai trụ cột: Compactness và Löwenheim–Skolem
Cho là một tập câu . Nếu mọi tập con hữu hạn có mô hình, thì bản thân có mô hình.
Vì sao đúng?
Điều này gây kinh ngạc: có thể vô hạn, thậm chí mã hóa vô hạn ràng buộc, nhưng tính nhất quán chỉ cần kiểm từng hữu hạn ràng buộc một lúc. Đây là cầu nối từ chứng minh hữu hạn (một suy diễn hình thức luôn là đối tượng hữu hạn) tới ngữ nghĩa vô hạn (một mô hình có thể vô hạn), và là định lý duy nhất chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của các mô hình vô hạn và phi chuẩn xuyên suốt lý thuyết mô hình.
Chứng minh
Ta chứng minh mệnh đề phản đảo: nếu không có mô hình, thì có một hữu hạn không có mô hình.
Giả sử không thỏa mãn được. Theo Định lý Đầy đủ Gödel cho logic bậc một (kéo theo ngữ nghĩa trùng với suy dẫn cú pháp: khi và chỉ khi ), việc không thỏa mãn được tương đương với không nhất quán về cú pháp, tức — một mâu thuẫn suy dẫn được hình thức từ .
Một suy dẫn hình thức theo định nghĩa là một dãy hữu hạn các công thức, mỗi công thức được biện minh bởi một tiên đề, một tiền đề từ , hoặc một quy tắc suy luận áp dụng cho các dòng trước. Vì suy dẫn của hữu hạn, nó chỉ trích dẫn hữu hạn tiền đề từ ; gom chúng vào tập hữu hạn .
Chính suy dẫn hữu hạn đó, chỉ dùng tiền đề từ , chứng thực . Theo tính đúng đắn của logic bậc một (suy dẫn được kéo theo kéo theo ngữ nghĩa), , tức không thỏa mãn được — nó không có mô hình.
Vậy ta đã tạo ra một hữu hạn không có mô hình, chứng minh mệnh đề phản đảo. Tương đương: nếu mọi tập con hữu hạn của có mô hình, không thể tồn tại suy dẫn hữu hạn không nhất quán như vậy, nên không thể không thỏa mãn được, do đó có mô hình.
Cho là một ngôn ngữ đếm được và là một cấu trúc vô hạn. Khi đó có một mô hình con sơ cấp đếm được , tức tồn tại với và đếm được vô hạn.
Vì sao đúng?
Điều này cho thấy logic bậc một không thể chốt được lực lượng: bất kỳ lý thuyết nào có mô hình vô hạn (ví dụ tiên đề trường, tiên đề lý thuyết tập hợp, ...) đã có sẵn một mô hình đếm được, dù mô hình gốc được xây "lớn" đến đâu. Kết hợp với chiều lên (mọi mô hình vô hạn đều có mở rộng sơ cấp ở mọi lực lượng lớn hơn), đây là nguồn gốc của Nghịch lý Skolem — một cấu trúc đếm được có thể thỏa mãn đúng các câu bậc một như một cấu trúc không đếm được, kể cả những câu "khẳng định" tính không đếm được từ bên trong.
Chứng minh
Ta xây là hợp của một dãy tăng đếm được các tập con đếm được của , dùng kiểm tra Tarski–Vaught: một tập con (như cấu trúc con) là sơ cấp khi và chỉ khi với mọi công thức là và mọi bộ từ , nếu có nào đó với , thì đã có sẵn nhân chứng như vậy.
Vì đếm được, chỉ có đếm được nhiều công thức . Bắt đầu với đếm được vô hạn bất kỳ (có thể vì vô hạn). Cho đếm được, với mỗi công thức và mỗi bộ từ (vẫn chỉ đếm được nhiều cặp, vì đếm được và đếm được), nếu , chọn một nhân chứng như vậy (dùng Tiên đề Chọn) và thêm vào để tạo ; điều này chỉ thêm đếm được nhiều phần tử mới, nên vẫn đếm được.
Đặt ; hợp đếm được của các tập đếm được, nên đếm được (và vô hạn, vì ). Ta kiểm kiểm tra Tarski–Vaught cho : cho và từ , vì là bộ hữu hạn nên nó nằm trọn trong một nào đó (dãy tăng dần); nếu tồn tại nhân chứng cho , thì theo cách xây , một nhân chứng đã được chọn và đặt vào .
Theo kiểm tra Tarski–Vaught, (với cấu trúc cảm sinh ) thỏa mãn . Mô hình con sơ cấp thỏa mãn đúng cùng các câu như cấu trúc mẹ, nên là một mô hình đếm được vô hạn chứng thực định lý.
Nâng caoỨng dụng thực tiễn và Ví dụ minh họa
Tarski chứng minh rằng lý thuyết của trường đóng thực (trường có thứ tự mà mọi phần tử dương có căn bậc hai và mọi đa thức bậc lẻ có nghiệm — là ví dụ chuẩn) thừa nhận khử lượng từ: mọi công thức tương đương, chứng minh được trong , với một công thức không lượng từ trên các bất đẳng thức đa thức. Hệ quả: quyết định được, cho một thuật toán (dù tốn kém) cho hình học Euclid sơ cấp và tối ưu hóa đa thức, dùng ngày nay trong lập kế hoạch chuyển động robot và kiểm chứng hình thức hệ điều khiển lai. Áp dụng compactness cho với một hằng mới thỏa với mọi tạo ra một mở rộng tương đương sơ cấp phi chuẩn chứa các vô cùng bé thực sự, điểm khởi đầu của giải tích phi chuẩn của Abraham Robinson. Tính khử lượng từ "thuần" của sau này được trừu tượng hóa thành tính o-tối tiểu, một khung nay là trung tâm của các kết quả giao nhau bất khả dĩ trong hình học số học (phương pháp Pila–Zannier).
Ví dụ: Khử lượng từ của Tarski trong hành động
Khử lượng từ khỏi trên số thực (với ), tạo ra điều kiện không lượng từ tương đương chỉ trên — chính xác kiểu bước mà thuật toán Tarski thực hiện.
Lời giải
Theo công thức nghiệm phương trình bậc hai, có nghiệm thực khi và chỉ khi biệt thức không âm: .
Vậy tương đương, chứng minh được trong lý thuyết trường đóng thực, với công thức không lượng từ (với ) — lượng từ tồn tại trên đã bị khử hoàn toàn, thay bằng một bất đẳng thức đa thức trên các biến còn lại .
Đây là một trường hợp cụ thể của định lý tổng quát Tarski: mọi công thức trong ngôn ngữ trường có thứ tự tương đương với một tổ hợp Boolean của các đẳng thức/bất đẳng thức đa thức trên biến tự do, không có lượng từ nào, và phép khử này đều và hiệu quả — một thuật toán thực sự tính được nó cho công thức có độ phức tạp bất kỳ, đó là lý do RCF là lý thuyết quyết định được.
Ví dụ: Xây dựng vô cùng bé bằng Compactness
Cho là biểu đồ sơ cấp của (mọi câu bậc một với tham số từ đúng trong ) cùng với một ký hiệu hằng mới và tập vô hạn các câu . Dùng Định lý Compactness để chỉ ra có mô hình, và giải thích tại sao mô hình này chứa một vô cùng bé thực sự.
Lời giải
Lấy bất kỳ hữu hạn nào. Nó chỉ nhắc tới hữu hạn câu , giả sử cho . Diễn giải trong cấu trúc thông thường là số thực cụ thể : điều này thỏa với mọi (vì khi ), và mọi câu biểu đồ sơ cấp đều đúng trong theo cách xây dựng. Vậy có mô hình.
Vì mọi hữu hạn đều có mô hình, Định lý Compactness đã chứng minh ở trên cho một mô hình của toàn bộ tập vô hạn .
Trong mô hình này, diễn giải của thỏa với mọi số nguyên dương cùng lúc — không số thực nào có tính chất này (bất kỳ số thực nào cũng không thỏa câu với ), nên phải là một phần tử mới của : một vô cùng bé dương, nhỏ hơn mọi số hữu tỷ dương nhưng vẫn lớn hơn . Vì thỏa mãn biểu đồ sơ cấp của , nó tương đương sơ cấp với và tuân theo mọi tính chất bậc một mà có — đây chính xác là xây dựng của Abraham Robinson làm nền tảng giải tích phi chuẩn.
Nếu mọi tập con hữu hạn của một tập câu có mô hình, Định lý Compactness kết luận điều gì?
Định lý Löwenheim–Skolem chiều xuống được chứng minh bằng công cụ then chốt nào?
Khử lượng từ của Tarski cho biến (với ) thành điều kiện không lượng từ nào?
Tại sao Nghịch lý Skolem không phải là một mâu thuẫn thực sự?
Tài liệu tham khảo
- Katrin Tent, Martin Ziegler (2012). A Course in Model Theory
- Lou van den Dries (1998). Tame Topology and O-minimal Structures
- Jonathan Pila, Alex J. Wilkie (2006). The rational points of a definable set