Định lý Chen ("1 + 2")
Phát biểu
Mọi số nguyên chẵn đủ lớn đều có thể viết thành , trong đó là số nguyên tố và hoặc là số nguyên tố hoặc là tích của đúng hai số nguyên tố (, gọi là bán nguyên tố, thường ký hiệu ).
Vì sao đúng?
Giả thuyết Goldbach muốn là tổng hai số nguyên tố; các phương pháp sàng cổ điển không thể phát hiện trực tiếp số nguyên tố vì 'vấn đề chẵn lẻ' (parity problem) — sàng thuần túy không phân biệt được số có số lẻ thừa số nguyên tố với số có số chẵn thừa số nguyên tố. Ý tưởng của Chen là nới lỏng mục tiêu vừa đủ — cho phép số hạng thứ hai có tối đa hai thừa số nguyên tố thay vì đúng một — để một sàng có trọng số khéo léo, kết hợp với kỹ thuật 'chuyển đổi' giữa hai bài toán sàng khác nhau, có thể đẩy tới một số đếm dương. Kết quả này là cách tiếp cận vô điều kiện gần nhất được biết tới giả thuyết Goldbach, chỉ còn cách đúng một thừa số nguyên tố.
Phác thảo chứng minh
Sàng dãy để phát hiện các phần tử có nhiều nhất hai thừa số nguyên tố, dùng một tổ hợp có trọng số của các tổng sàng (sàng tuyến tính kiểu Jurkat–Richert) thay vì một sàng chặn dưới thuần túy, vì sàng thuần túy bị chặn bởi vấn đề chẵn lẻ. Công cụ kỹ thuật then chốt là 'nguyên lý chuyển đổi': các số hạng mà có từ ba thừa số nguyên tố trở lên được chặn trên bằng cách cố định một thừa số nguyên tố cỡ trung bình rồi chuyển sang một sàng chặn trên cho các số nguyên tố , có thể kiểm soát được nhờ định lý Bombieri–Vinogradov về số nguyên tố trong cấp số cộng. Kết hợp chặn dưới thu được cho số đếm có trọng số của các biểu diễn với chặn trên cho các đóng góp không mong muốn cho thấy tổng là dương với mọi đủ lớn. Chen công bố kết quả năm 1966 và xuất bản chi tiết đầy đủ năm 1973; P. M. Ross đưa ra một chứng minh đơn giản hóa năm 1975.
Người phát biểu
Người chứng minh
Chủ đề chứa định lý này
Định lý liên quan
Chứng minh từng bước
Tài liệu tham khảo
- Jing-Run Chen (1973). On the representation of a larger even integer as the sum of a prime and the product of at most two primes
- Heini Halberstam, Hans-Egon Richert (1974). Sieve Methods