Định lý Carleson
Phát biểu
Với mọi hàm tuần hoàn khả tích bình phương , các tổng riêng đối xứng của chuỗi Fourier của nó, trong đó , hội tụ từng điểm về khi tại hầu khắp theo độ đo Lebesgue. (Được Richard Hunt mở rộng năm 1968 cho mọi với .)
Vì sao đúng?
Đồng nhất thức Parseval bảo đảm rằng các tổng riêng Fourier hội tụ về theo năng lượng trung bình , nên Nikolai Luzin đã phỏng đoán vào năm 1915 rằng cũng phải hội tụ tại hầu khắp từng điểm riêng lẻ. Thế nhưng Andrey Kolmogorov đã gây chấn động giới giải tích vào giai đoạn 1923–1926 khi dựng được một hàm khả tích có chuỗi Fourier phân kỳ tại mọi điểm, khiến nhiều người nghi ngờ giả thuyết Luzin cũng sai ngay cả với . Năm 1966, Lennart Carleson chứng minh rằng điều kiện năng lượng hữu hạn đủ mạnh để chế ngự các dao động dữ dội của nhân Dirichlet: sự giao thoa triệt tiêu qua các thang đo ngăn không cho các tổng riêng bùng nổ, ngoại trừ trên một tập có độ đo bằng không.
Phác thảo chứng minh
Vì các đa thức lượng giác trù mật trong và hội tụ từng điểm tại mọi nơi, nguyên lý cực đại quy việc chứng minh hội tụ hầu khắp về việc thiết lập đánh giá kiểu yếu cho toán tử cực đại Carleson , cụ thể là . Biểu diễn qua nhân Dirichlet cho thấy bị kiểm soát bởi , một tích phân kỳ dị điều chế. Carleson phân rã mặt phẳng thời gian – tần số thành các hình chữ nhật nhị phân (các ô lát) và tổ chức chúng theo tổ hợp thành các cây để chặn các tương tác trên cả không gian lẫn tần số; năm 2000, Michael Lacey và Christoph Thiele đã đưa ra một chứng minh gọn gàng hơn trên mặt phẳng pha thời gian – tần số.
Chủ đề chứa định lý này
Định lý liên quan
Chứng minh từng bước
Chưa có chứng minh từng bước cho định lý này.
Tài liệu tham khảo
- Lennart Carleson (1966). On convergence and growth of partial sums of Fourier series · DOI:10.1007/BF02392815
- Michael Lacey, Christoph Thiele (2000). A proof of boundedness of the Carleson operator · DOI:10.4310/MRL.2000.v7.n4.a1