MathLabs

Lớp 11

Giới hạn của dãy số

Giá trị mà dãy số tiến tới khi chỉ số tăng vô hạn.

Trực giácĐuổi theo một dãy số ra vô cực

Xét dãy an=1na_n=\frac{1}{n}: 1, 0.5, 0.333…, 0.25,…1,\ 0.5,\ 0.333\ldots,\ 0.25,\ldots Các số hạng không bao giờ thực sự bằng 00, nhưng chúng ép sát tùy ý tới 00 khi nn tăng. Việc "tiến gần mãi mãi" này chính là điều khái niệm giới hạn của dãy số nắm bắt, và nó là động cơ đứng sau tổng vô hạn, thuật toán lặp và lãi kép.

Biểu đồ cột các tổng riêng của một cấp số nhân ổn định dần quanh một đường giới hạn nằm ngang khi n tăng.
Tổng riêng Sn=∑k=0n−1u1qkS_n=\sum_{k=0}^{n-1}u_1q^k của một cấp số nhân; kéo nn và quan sát Sn→u11−qS_n\to \frac{u_1}{1-q}.

Phổ thôngĐịnh nghĩa chính xác

Định nghĩa: Giới hạn của dãy số (định nghĩa ε–N)

Ta nói lim⁡n→∞an=L\lim_{n\to\infty} a_n = L nếu với mọi số ε>0\varepsilon>0 nhỏ tùy ý, luôn tồn tại một chỉ số NN mà kể từ đó mọi số hạng ana_n đều sai khác LL ít hơn ε\varepsilon. Viết bằng ký hiệu: ∀ε>0, ∃N∈N∗: ∀n>N, ∣an−L∣<ε\forall \varepsilon>0,\ \exists N\in\mathbb{N}^*:\ \forall n>N,\ |a_n-L|<\varepsilon

∀ε>0, ∃N∈N∗: ∀n>N, ∣an−L∣<ε\forall \varepsilon>0,\ \exists N\in\mathbb{N}^*:\ \forall n>N,\ |a_n-L|<\varepsilon

Ở đây ε\varepsilon (epsilon) là một sai số nhỏ tùy ý do "người hoài nghi" chọn, NN là "chỉ số chờ" mà ta được chọn để đáp lại, và ∣an−L∣<ε|a_n-L|<\varepsilon nghĩa là số hạng ana_n nằm trong dải (L−ε,L+ε)(L-\varepsilon, L+\varepsilon). Định nghĩa này giống một trò chơi: dù ε\varepsilon nhỏ đến đâu, ta luôn chỉ ra được một NN phù hợp.

S=lim⁡n→∞Sn=u11−qS=\lim_{n\to\infty}S_n=\frac{u_1}{1-q}
Các giới hạn đặc biệt dùng thường xuyên
DạngKết quả
Nghịch đảo lũy thừalim⁡n→∞1nk=0\lim_{n\to\infty}\frac{1}{n^k}=0 với k>0k>0
Lũy thừa cấp số nhânlim⁡n→∞qn=0\lim_{n\to\infty} q^n = 0 khi ∣q∣<1|q|<1
Dãy hằng sốlim⁡n→∞c=c\lim_{n\to\infty} c = c
Tăng đa thứclim⁡n→∞nk=+∞\lim_{n\to\infty} n^k = +\infty với k>0k>0

Đại họcHai định lý trụ cột

Nếu (an)(a_n) tăng và bị chặn trên thì nó hội tụ, và a1≤a2≤⋯≤M ⇒ lim⁡n→∞an=sup⁡nana_1\le a_2\le\cdots\le M\ \Rightarrow\ \lim_{n\to\infty}a_n=\sup_n a_n (đối xứng cho dãy giảm bị chặn dưới).

Vì sao đúng?

Về trực giác, một dãy chỉ toàn leo lên nhưng không bao giờ vượt qua một "trần" thì không còn chỗ nào khác để đi ngoài việc dừng lại ngay sát dưới trần đó.

Chứng minh

Cho (an)(a_n) tăng và bị chặn trên. Theo tiên đề đầy đủ của R\mathbb{R}, tập {an:n∈N∗}\{a_n : n\in\mathbb{N}^*\} có cận trên đúng L=sup⁡nanL=\sup_n a_n.

Cố định ε>0\varepsilon>0. Vì LL là cận trên đúng (nhỏ nhất), L−εL-\varepsilon không phải là cận trên, nên tồn tại chỉ số NN sao cho aN>L−εa_N>L-\varepsilon.

Vì (an)(a_n) tăng, với mọi n>Nn>N ta có an≥aN>L−εa_n\ge a_N>L-\varepsilon. Mặt khác an≤La_n\le L với mọi nn, vì LL là cận trên của cả dãy.

Kết hợp hai bất đẳng thức: L−ε<an≤L<L+εL-\varepsilon<a_n\le L<L+\varepsilon với mọi n>Nn>N, tức ∣an−L∣<ε|a_n-L|<\varepsilon. Vì ε>0\varepsilon>0 tùy ý nên theo định nghĩa ε–N, lim⁡n→∞an=L\lim_{n\to\infty} a_n = L. ■\blacksquare

Nếu bn≤an≤cn, lim⁡bn=lim⁡cn=L ⇒ lim⁡an=Lb_n\le a_n\le c_n,\ \lim b_n=\lim c_n=L\ \Rightarrow\ \lim a_n=L, thì lim⁡n→∞an=L\lim_{n\to\infty} a_n = L.

Vì sao đúng?

Nếu một dãy bị kẹp giữa hai dãy khác cùng hội tụ về một điểm, nó không còn chỗ nào khác để đi.

Chứng minh

Giả sử bn≤an≤cnb_n\le a_n\le c_n với mọi nn đủ lớn, và lim⁡bn=lim⁡cn=L\lim b_n=\lim c_n=L.

Cố định ε>0\varepsilon>0. Vì lim⁡bn=L\lim b_n=L nên tồn tại N1N_1 sao cho L−ε<bn<L+εL-\varepsilon<b_n<L+\varepsilon với mọi n>N1n>N_1. Vì lim⁡cn=L\lim c_n=L nên tồn tại N2N_2 sao cho L−ε<cn<L+εL-\varepsilon<c_n<L+\varepsilon với mọi n>N2n>N_2.

Đặt N=max⁡(N1,N2)N=\max(N_1,N_2). Với mọi n>Nn>N, kết hợp bn≤an≤cnb_n\le a_n\le c_n với hai bất đẳng thức trên: L−ε<bn≤an≤cn<L+εL-\varepsilon<b_n\le a_n\le c_n<L+\varepsilon, suy ra L−ε<an<L+εL-\varepsilon<a_n<L+\varepsilon, tức ∣an−L∣<ε|a_n-L|<\varepsilon.

Vì ε>0\varepsilon>0 tùy ý, theo định nghĩa ε–N, lim⁡n→∞an=L\lim_{n\to\infty} a_n=L. ■\blacksquare

Đại họcỨng dụng thực tiễn và Ví dụ minh họa

Giới hạn dãy số là nền tảng của cấp số nhân lùi vô hạn trong tài chính (niên kim vĩnh viễn, trả góp), vật lý (năng lượng mất đi khi bóng nảy), khoa học máy tính (vòng lặp hội tụ, lặp điểm bất động) và giải tích số (thuật toán tìm nghiệm có từ trước máy tính, như phương pháp Babylon tính căn bậc hai).

Ví dụ

Một quả bóng được thả rơi từ độ cao h0=2h_0=2 m. Sau mỗi lần chạm đất, bóng nảy lên tới độ cao bằng q=0.6q=0.6 lần độ cao lần nảy trước (∣q∣<1|q|<1). Tính tổng quãng đường bóng đi được (rơi xuống và nảy lên) cho tới khi dừng hẳn, coi như bóng nảy vô hạn lần.

Lời giải

Lần rơi đầu tiên đóng góp h0h_0. Sau đó, mỗi lần nảy k=1,2,…k=1,2,\ldots đóng góp một chặng "lên" cao h0qkh_0q^k và một chặng "xuống" cùng độ cao, nên đóng góp 2h0qk2h_0q^k vào tổng.

Tổng của vô hạn lần nảy là một cấp số nhân lùi vô hạn: ∑k=1∞2h0qk=2h0⋅q1−q\sum_{k=1}^{\infty} 2h_0q^k = 2h_0\cdot\frac{q}{1-q}, dùng S=lim⁡n→∞Sn=u11−qS=\lim_{n\to\infty}S_n=\frac{u_1}{1-q} với số hạng đầu là qq.

Tổng quãng đường =h0+2h0⋅q1−q=h0⋅1−q+2q1−q=h0⋅1+q1−q=h_0+2h_0\cdot\frac{q}{1-q}=h_0\cdot\frac{1-q+2q}{1-q}=h_0\cdot\frac{1+q}{1-q}.

Thay h0=2h_0=2 và q=0.6q=0.6: tổng =2⋅1.60.4=2⋅4=8=2\cdot\frac{1.6}{0.4}=2\cdot 4=8 m. Dù bóng nảy vô hạn lần, tổng quãng đường lại hữu hạn — hệ quả trực tiếp của giới hạn cấp số nhân lùi vô hạn.

Ví dụ

Xét dãy số xác định bởi u1=1u_1=1 và un+1=12(un+2un)u_{n+1}=\frac{1}{2}\left(u_n+\frac{2}{u_n}\right) (thuật toán Babylon/Heron tính căn bậc hai). Chứng minh dãy (un)(u_n) hội tụ và tìm giới hạn.

Lời giải

Trước tiên, tính bị chặn: theo bất đẳng thức AM–GM, với mọi un>0u_n>0, un+1=12(un+2un)≥un⋅2un=2u_{n+1}=\frac{1}{2}\left(u_n+\frac{2}{u_n}\right)\ge\sqrt{u_n\cdot\frac{2}{u_n}}=\sqrt{2}, nên un≥2u_n\ge\sqrt{2} với mọi n≥2n\ge 2.

Tiếp theo, tính đơn điệu: với n≥2n\ge 2, un+1−un=2−un22un≤0u_{n+1}-u_n=\frac{2-u_n^2}{2u_n}\le 0 vì un2≥2u_n^2\ge 2. Vậy (un)(u_n) giảm (kể từ chỉ số 22) và bị chặn dưới bởi 2\sqrt{2}.

Theo định lý dãy đơn điệu và bị chặn, (un)(u_n) hội tụ về một giới hạn LL nào đó. Lấy giới hạn hai vế của công thức truy hồi: L=12(L+2L)L=\frac{1}{2}\left(L+\frac{2}{L}\right), suy ra 2L=L+2L2L=L+\frac{2}{L}, nên L2=2L^2=2, do đó L=2L=\sqrt{2} (nghiệm dương, vì mọi un>0u_n>0).

Bằng số: u1=1, u2=1.5, u3≈1.41667, u4≈1.414216u_1=1,\ u_2=1.5,\ u_3\approx1.41667,\ u_4\approx1.414216 — đã chính xác tới năm chữ số thập phân của 2\sqrt{2} chỉ sau ba bước, cho thấy thuật toán lặp cổ xưa này hội tụ nhanh đến mức nào.

Tính lim⁡n→∞2n+1n+3\lim_{n\to\infty}\frac{2n+1}{n+3}.

Với q=0.5q=0.5, giá trị của lim⁡n→∞qn\lim_{n\to\infty} q^n là bao nhiêu?

Một cấp số nhân lùi vô hạn có số hạng đầu u1=3u_1=3 và công bội q=13q=\frac{1}{3}. Tổng của nó bằng bao nhiêu?

Điều kiện nào, cùng với tính đơn điệu, đảm bảo một dãy số có giới hạn hữu hạn?

Tài liệu tham khảo

  1. James Stewart (2015). Calculus: Early Transcendentals
  2. Judith V. Grabiner (1983). Who Gave You the Epsilon? Cauchy and the Origins of Rigorous Calculus