Giá trị mà hàm số tiến tới khi biến số tiến gần tùy ý tới một điểm.
Trực giácChuyện xảy ra ngay sát một điểm
Giả sử ta không thể tính trực tiếp một công thức ngay tại x=x0 — chẳng hạn tỉ số sai phân hf(x0+h)−f(x0) tại h=0 cho dạng 00. Dù bản thân điểm đó không chạm tới được, ta vẫn có thể tiến gần tùy ý tới x0 từ cả hai phía và xem f(x) ổn định quanh giá trị nào. Giá trị đích đó là giới hạn limx→x0f(x)=L, và nó không cần biết f(x0) có tồn tại hay không.
Đường cong có điểm cố định x0 và điểm thứ hai x0+h; khi h co về 0, đường cát tuyến xoay dần thành đường tiếp tuyến.
Hệ số góc cát tuyến hf(x0+h)−f(x0): kéo h→0 và quan sát cát tuyến tiến dần thành tiếp tuyến — một giới hạn tại h=0, nơi bản thân công thức không xác định.
Phổ thôngĐịnh nghĩa chính xác và các giới hạn cơ bản
Định nghĩa: Giới hạn của hàm số tại một điểm (định nghĩa ε–δ)
Cho hàm f xác định trên một khoảng mở quanh x0, có thể trừ chính điểm x0. Ta viết limx→x0f(x)=L nếu với mọi sai số ε>0 đều tồn tại bán kính δ>0 sao cho ∀ε>0,∃δ>0:0<∣x−x0∣<δ⇒∣f(x)−L∣<ε. Chú ý dấu bất đẳng thức ngặt 0<∣x−x0∣: trong phép thử này, x không bao giờ được bằng x0.
∀ε>0,∃δ>0:0<∣x−x0∣<δ⇒∣f(x)−L∣<ε
Ở đây ε là sai số dọc quanh L trên trục giá trị, còn δ (delta) là cửa sổ ngang quanh x0 trên trục biến số. Hai giới hạn nền tảng — được chứng minh bằng hình học và bằng chặn đơn điệu — mở khóa toàn bộ đạo hàm của các hàm lượng giác, mũ và lôgarit: limx→0xsinx=1 (với x tính bằng radian) và limx→∞(1+x1)x=e.
Giới hạn hai bên tồn tại khi và chỉ khi cả hai giới hạn một bên cùng tồn tại và bằng nhau: limx→x0f(x)=L⟺limx→x0−f(x)=limx→x0+f(x)=L.
Vì sao đúng?
Đi về phía một cánh cửa từ hành lang bên trái và từ hành lang bên phải chỉ đưa ta tới cùng một chỗ nếu hai hành lang thực sự gặp nhau tại cùng một điểm.
Chứng minh
(⇒) Giả sử limx→x0f(x)=L. Với ε>0 cho trước, định nghĩa ε–δ cho δ>0 sao cho 0<∣x−x0∣<δ⇒∣f(x)−L∣<ε.
Đặc biệt, nếu x0<x<x0+δ (điều kiện bên phải) hoặc x0−δ<x<x0 (điều kiện bên trái), ta tự động có 0<∣x−x0∣<δ, nên ∣f(x)−L∣<ε. Vậy cả hai giới hạn một bên đều bằng L.
(⇐) Ngược lại, giả sử cả hai giới hạn một bên đều bằng L. Với ε>0 cho trước, giới hạn trái cho δ1>0 thỏa trên (x0−δ1,x0), còn giới hạn phải cho δ2>0 thỏa trên (x0,x0+δ2).
Đặt δ=min(δ1,δ2)>0. Khi đó mọi x thỏa 0<∣x−x0∣<δ đều nằm trong (x0−δ1,x0) hoặc (x0,x0+δ2), và trong cả hai trường hợp đều có ∣f(x)−L∣<ε. Suy ra limx→x0f(x)=L. ■
Trên đường tròn đơn vị, một cung rất nhỏ có độ dài x, cạnh đứng sinx và đoạn tiếp tuyến ngoài tanx trở nên không thể phân biệt bằng mắt khi góc khép dần về 0.
Chứng minh
Xét 0<x<2π trên đường tròn đơn vị tâm O, điểm A=(1,0), điểm B=(cosx,sinx) trên đường tròn, và điểm T=(1,tanx) là giao của tia OB với tiếp tuyến đứng tại A.
Tam giác △OAB nằm hoàn toàn bên trong hình quạt tròn OAB, và hình quạt này lại nằm hoàn toàn bên trong tam giác vuông △OAT. So sánh diện tích ba hình ta được 21sinx<21x<21tanx.
Vì sinx>0 trên (0,2π), nhân cả dãy bất đẳng thức với sinx2: 1<sinxx<cosx1. Lấy nghịch đảo sẽ đảo chiều bất đẳng thức: cosx<xsinx<1.
Khi x→0+ thì cosx→1, nên định lý kẹp buộc limx→0+xsinx=1. Cuối cùng, g(x)=xsinx là hàm chẵn (g(−x)=−xsin(−x)=−x−sinx=g(x)), nên limx→0−xsinx=1 cũng đúng; hợp lại ta được limx→0xsinx=1. ■
Đại họcỨng dụng thực tiễn và Ví dụ minh họa
Giới hạn hàm số biến tốc độ trung bình thành tốc độ tức thời trong vật lý (vận tốc, gia tốc, cường độ dòng điện), biện minh cho xấp xỉ góc nhỏ cận trục sinθ≈θ trong quang học hình học (ống kính máy ảnh, kính thiên văn) và cơ học con lắc, đồng thời biến lãi kép rời rạc thành lãi kép liên tục thông qua limx→∞(1+x1)x=e.
Ví dụ
Một viên đá rơi có vị trí s(t)=5t2 (mét) tại thời điểm t (giây). Dùng giới hạn của vận tốc trung bình trên đoạn [2,2+h], hãy tìm vận tốc tức thời của nó tại t=2 giây.
Lời giải
Trên khoảng thời gian [2,2+h] với h=0, vận tốc trung bình là vavg(h)=hs(2+h)−s(2)=h5(2+h)2−5⋅22.
Khai triển tử số: 5(4+4h+h2)−20=20h+5h2=h(20+5h).
Vì h=0 khi lấy giới hạn, rút gọn h: vavg(h)=20+5h.
Lấy giới hạn khi h→0: v(2)=limh→0(20+5h)=20 m/s. Chú ý cách dạng vô định 00 biến mất ngay khi ta rút gọn trước lúc lấy giới hạn.
Ví dụ
Trong quang học cận trục, các kỹ sư thiết kế thấu kính thay sinθ trong định luật khúc xạ Snell n1sinθ1=n2sinθ2 bằng θ (radian) nhờ limx→0xsinx=1. Dùng bất đẳng thức kẹp cosx<xsinx<1, hãy chứng minh với tia tới ở góc θ=0.1 rad (≈5.7∘), sai số tương đối sinθθ−sinθ nhỏ hơn 1%.
Lời giải
Từ cosx<xsinx<1 với 0<θ<2π, lấy nghịch đảo ta được 1<sinθθ<cosθ1.
Trừ 1 ở cả ba vế: 0<sinθθ−sinθ<cosθ1−1=cosθ1−cosθ.
Dùng 1−cosθ=2sin2(θ/2)<2(θ/2)2=2θ2 và cos(0.1)>0.99, tại θ=0.1 ta được: sinθθ−sinθ<0.990.005≈0.00505, tức khoảng 0.5%<1%.
(Thực tế giá trị chính xác chỉ ≈0.167%.) Đó là lý do công thức thấu kính tuyến tính hóa do1+di1=f1 cực kỳ chính xác đối với các tia sáng gần trục quang học.
Tính limx→2x−2x2−4.
Cho f(x)=x+1 khi x<1 và f(x)=x2 khi x≥1. Giá trị của limx→1f(x) là gì?
Giá trị của limx→0xsin(3x) (với x tính bằng radian) là bao nhiêu?
Hằng số nổi tiếng nào được định nghĩa bởi limx→∞(1+x1)x?