MathLabs
Bước 1 trên 4: Mục tiêu, và vì sao sàng thuần túy không tới được
Hiểu nôm na

Giả thuyết Goldbach đòi hỏi N=p+qN=p+q với cả p,qp,q đều nguyên tố. Một cách tấn công tự nhiên là sàng dãy A={N−p:p≤N prime}\mathcal{A}=\{N-p : p\le N \text{ prime}\} để tìm các phần tử không có thừa số nguyên tố nhỏ, hy vọng cô lập được số nguyên tố trong các N−pN-p. Nhưng mọi sàng đã biết — Selberg, Brun, sàng tổ hợp tổng quát — đều mắc phải 'vấn đề chẵn lẻ': chặn dưới của một sàng thuần túy không thể phân biệt một số có đúng một thừa số nguyên tố với một số có, chẳng hạn, đúng ba thừa số, vì sàng chỉ 'thấy' tính chia hết, không thấy tính chẵn lẻ của số thừa số. Cách Chen vượt qua rào cản này không phải là đối đầu trực diện với vấn đề chẵn lẻ, mà là nới lỏng mục tiêu: chứng minh phát biểu yếu hơn nhưng vẫn rất không tầm thường rằng N−pN-p có nhiều nhất hai thừa số nguyên tố, với ít nhất một số nguyên tố p≤Np\le N.

N=p+q,p prime,q=q1 or q=q1q2 (P2)N = p + q,\qquad p \text{ prime},\quad q = q_1 \text{ or } q = q_1q_2 \ (P_2)
Phân tích chi tiết

Vấn đề chẵn lẻ, sau này được Selberg hình thức hóa, nói đại khái rằng bất kỳ trọng số sàng nào chỉ dựng từ hàm Möbius μ(d)\mu(d) bị cắt ở một mức zz nào đó đều không thể, tự nó, phân biệt số có số lẻ thừa số nguyên tố dưới zz với số có số chẵn thừa số nguyên tố — vì cả hai lớp đều đóng góp cùng kiểu dấu vào ∑d∣nμ(d)\sum_{d|n}\mu(d). Rényi đã chỉ ra từ năm 1947 (trước khi vấn đề chẵn lẻ được đặt tên) rằng một KK cố định nào đó có hiệu quả, cho N=p+PKN=p+P_K; nội dung lý thuyết sàng của định lý Chen là đẩy KK xuống tận 22, giá trị sắc nhất đạt được bởi các phương pháp này tính tới nay.

Thuật ngữ trong bước này
Vấn đề chẵn lẻ (lý thuyết sàng)
Một rào cản nền tảng, do Selberg chỉ ra, ngăn các phương pháp sàng tổ hợp một mình không bao giờ chứng minh được một dãy chứa vô hạn số nguyên tố (số có đúng một thừa số nguyên tố), trái với số có một số thừa số nguyên tố nhỏ nhưng không xác định.