MathLabs

Lớp 12

Tích phân

Tích phân đo lượng tích lũy có dấu của một đại lượng biến thiên liên tục — từ diện tích hình thang cong đến thể tích khối tròn xoay — và được nối với nguyên hàm qua Định lý cơ bản của giải tích.

Trực giácCắt thật mỏng, cộng thật nhiều: đo miền cong

Làm sao tính diện tích một miền có biên cong, hay tổng quãng đường đi được khi vận tốc thay đổi từng khoảnh khắc? Hình học sơ cấp chỉ có công thức cho những hình phẳng cạnh thẳng như hình chữ nhật hay tam giác. Ý tưởng cốt lõi của tích phân là cắt thật mỏng, cộng thật nhiều: chia miền dưới đồ thị y=f(x)≥0y = f(x) \ge 0 trên đoạn [a,b][a, b] thành nn dải thẳng đứng có bề rộng bằng nhau Δx=(b−a)/n\Delta x = (b - a)/n, rồi xấp xỉ mỗi dải bằng một hình chữ nhật. Khi số hình chữ nhật còn ít, bậc thang chỉ là xấp xỉ thô; khi nn tăng lên và Δx→0\Delta x \to 0, phần lệch ở mép trên nhỏ dần và tổng diện tích các hình chữ nhật tiến dần về một con số chính xác duy nhất — tích phân.

Đồ thị tương tác của parabol y = x^2 trên đoạn [0, 2] cùng n hình chữ nhật tô màu lấy chiều cao tại mút trái xấp xỉ diện tích dưới đường cong.
Tổng các hình chữ nhật lấy chiều cao tại mút trái của y=x2y = x^2 trên đoạn [0,2][0, 2] với nn lát cắt bề rộng Δx=2/n\Delta x = 2/n. Tăng nn để thấy diện tích bậc thang tiến dần về tích phân chính xác ∫02x2 dx=8/3≈2.667\int_0^2 x^2\,dx = 8/3 \approx 2.667.

Phổ thôngCông thức Newton–Leibniz và diện tích có dấu

Định nghĩa: Tích phân (công thức Newton–Leibniz)

Cho hàm số ff liên tục trên đoạn [a,b][a, b] và FF là một nguyên hàm bất kỳ của ff trên [a,b][a, b] (tức là F′(x)=f(x)F'(x) = f(x) với mọi x∈[a,b]x \in [a, b]). Tích phân của ff từ aa đến bb là hiệu số F(b)−F(a)F(b) - F(a). Vì mọi nguyên hàm khác đều có dạng G(x)=F(x)+CG(x) = F(x) + C với hằng số CC, hằng số này tự triệt tiêu khi trừ: G(b)−G(a)=(F(b)+C)−(F(a)+C)=F(b)−F(a)G(b) - G(a) = (F(b) + C) - (F(a) + C) = F(b) - F(a), nên giá trị tích phân không phụ thuộc vào việc chọn nguyên hàm nào.

∫abf(x) dx=F(x)∣ab=F(b)−F(a),F′(x)=f(x)\int_a^b f(x)\,dx = F(x)\Big|_a^b = F(b) - F(a), \qquad F'(x) = f(x)

Vì sao lấy hiệu nguyên hàm tại hai đầu mút lại ra đúng giới hạn của tổng các hình chữ nhật? Xét hàm diện tích A(x)A(x) là diện tích dưới đồ thị y=f(t)y = f(t) từ aa đến xx. Khi tăng xx thêm một lượng nhỏ hh, diện tích tăng thêm một dải mỏng cao ≈f(x)\approx f(x) và rộng hh, nên ΔA=A(x+h)−A(x)≈f(x) h\Delta A = A(x+h) - A(x) \approx f(x)\,h. Chia cho hh rồi cho h→0h \to 0 ta được A′(x)=f(x)A'(x) = f(x): hàm diện tích chính là một nguyên hàm của ff! Vì A(a)=0A(a) = 0, ta suy ra A(x)=F(x)−F(a)A(x) = F(x) - F(a). Với f(x)=x2f(x) = x^2 trên [0,2][0, 2], chọn F(x)=x3/3F(x) = x^3/3 cho ngay ∫02x2 dx=23/3−0=8/3\int_0^2 x^2\,dx = 2^3/3 - 0 = 8/3. Khi f(x)f(x) nằm dưới trục xx (f(x)<0f(x) < 0), độ cao mang dấu âm nên tích phân tính diện tích có dấu (phần phía trên trục hoành trừ phần phía dưới): chẳng hạn, ∫02πsin⁡x dx=(−cos⁡2π)−(−cos⁡0)=0\int_0^{2\pi} \sin x\,dx = (-\cos 2\pi) - (-\cos 0) = 0 vì vòm dương trên [0,π][0, \pi] và vòm âm trên [π,2π][\pi, 2\pi] triệt tiêu nhau.

Các tính chất cơ bản của tích phân theo phép toán và cận
Tính chấtCông thứcÝ nghĩa hình học
Đưa hằng số ra ngoài∫abkf(x) dx=k∫abf(x) dx\int_a^b k f(x)\,dx = k \int_a^b f(x)\,dxCo giãn chiều cao kk lần thì diện tích có dấu nhân kk
Tích phân của tổng, hiệu∫ab[f(x)±g(x)] dx=∫abf(x) dx±∫abg(x) dx\int_a^b [f(x) \pm g(x)]\,dx = \int_a^b f(x)\,dx \pm \int_a^b g(x)\,dxCộng hoặc trừ độ cao từng lát cắt
Tách đoạn (cộng đoạn)∫abf(x) dx=∫acf(x) dx+∫cbf(x) dx\int_a^b f(x)\,dx = \int_a^c f(x)\,dx + \int_c^b f(x)\,dxCắt miền tại x=cx = c thành hai phần kề nhau
Cận trùng nhau và đảo cận∫aaf(x) dx=0,∫baf(x) dx=−∫abf(x) dx\int_a^a f(x)\,dx = 0, \quad \int_b^a f(x)\,dx = -\int_a^b f(x)\,dxĐi ngược chiều trục số làm đổi dấu Δx\Delta x

Ví dụ: So sánh tích phân có dấu và diện tích hình phẳng trên [0,2][0, 2]

Cho f(x)=x2−1f(x) = x^2 - 1 trên đoạn [0,2][0, 2], hãy tính (a) tích phân I=∫02(x2−1) dxI = \int_0^2 (x^2 - 1)\,dx và (b) tổng diện tích hình học S=∫02∣x2−1∣ dxS = \int_0^2 |x^2 - 1|\,dx giới hạn bởi đồ thị và trục xx.

Lời giải

(a) Dùng nguyên hàm F(x)=x33−xF(x) = \frac{x^3}{3} - x, công thức Newton–Leibniz cho I=(233−2)−0=23I = \left(\frac{2^3}{3} - 2\right) - 0 = \frac{2}{3}. (b) Trên [0,2][0, 2], x2−1=0x^2 - 1 = 0 tại x=1x = 1, với x2−1≤0x^2 - 1 \le 0 trên [0,1][0, 1] và x2−1≥0x^2 - 1 \ge 0 trên [1,2][1, 2]. Tách tích phân tại x=1x = 1 ta được S=∫01(1−x2) dx+∫12(x2−1) dx=23+43=2S = \int_0^1 (1 - x^2)\,dx + \int_1^2 (x^2 - 1)\,dx = \frac{2}{3} + \frac{4}{3} = 2.

Ví dụ

Một lực biến thiên F(x)=3x2+2F(x) = 3x^2 + 2 newton tác dụng lên vật thể khi nó dịch chuyển dọc trục xx từ x=0x = 0 m đến x=3x = 3 m. (a) Viết công thực hiện dưới dạng tích phân xác định. (b) Tính giá trị chính xác. (c) Tìm lực trung bình trên đoạn dịch chuyển đó.

Lời giải

Bước 1 — Lập tích phân. Công do lực biến thiên F(x)=3x2+2F(x) = 3x^2 + 2 thực hiện là W=∫03F(x) dx=∫03(3x2+2) dxW = \int_0^3 F(x)\,dx = \int_0^3 (3x^2 + 2)\,dx.

Bước 2 — Tính bằng công thức Newton–Leibniz. Nguyên hàm là G(x)=x3+2xG(x) = x^3 + 2x. Áp dụng công thức: W=G(3)−G(0)=(27+6)−0=33W = G(3) - G(0) = (27 + 6) - 0 = 33 J.

Bước 3 — Tìm lực trung bình. Theo Định lý giá trị trung bình cho tích phân, giá trị trung bình của lực trên [0,3][0,3] là Fˉ=W3−0=333=11\bar{F} = \dfrac{W}{3-0} = \dfrac{33}{3} = 11 N. Đây là lực không đổi tạo cùng công trên cùng quãng đường — ứng dụng trực tiếp của định lý giá trị trung bình tích phân.

Đại họcKhả tích Riemann và Định lý cơ bản của giải tích

Định nghĩa: Phân hoạch, tổng Riemann và tích phân Riemann

Một phân hoạch của đoạn [a,b][a, b] là dãy hữu hạn P=(x0,x1,…,xn)P = (x_0, x_1, \dots, x_n) thỏa a=x0<x1<⋯<xn=ba = x_0 < x_1 < \dots < x_n = b, với độ dài các đoạn con Δxi=xi−xi−1\Delta x_i = x_i - x_{i-1} và đường kính ∥P∥=max⁡1≤i≤nΔxi\|P\| = \max_{1 \le i \le n} \Delta x_i. Chọn điểm mẫu xi∗∈[xi−1,xi]x_i^* \in [x_{i-1}, x_i] trên mỗi đoạn con cho ta tổng Riemann S(f,P,x∗)=∑i=1nf(xi∗) ΔxiS(f, P, x^*) = \sum_{i=1}^n f(x_i^*)\,\Delta x_i. Hàm bị chặn f:[a,b]→Rf : [a, b] \to \mathbb{R} gọi là khả tích Riemann với tích phân I=∫abf(x) dxI = \int_a^b f(x)\,dx nếu với mọi ε>0\varepsilon > 0, tồn tại δ>0\delta > 0 sao cho ∣S(f,P,x∗)−I∣<ε|S(f, P, x^*) - I| < \varepsilon mỗi khi ∥P∥<δ\|P\| < \delta, bất kể cách chọn các điểm mẫu xi∗x_i^*.

Cho hàm số f:[a,b]→Rf : [a, b] \to \mathbb{R} liên tục. (1) Hàm tích lũy diện tích A(x)=∫axf(t) dtA(x) = \int_a^x f(t)\,dt có đạo hàm trên [a,b][a, b] và A′(x)=f(x)A'(x) = f(x). (2) Nếu FF là một nguyên hàm bất kỳ của ff trên [a,b][a, b] thì ∫abf(x) dx=F(b)−F(a)\int_a^b f(x)\,dx = F(b) - F(a).

Vì sao đúng?

Tốc độ tăng của diện tích tích lũy A(x)A(x) theo xx chính là độ cao tức thời f(x)f(x) của đường cong tại biên phải đang dịch chuyển. Khi đã biết A′(x)=f(x)A'(x) = f(x), mọi nguyên hàm FF khác đều có cùng đạo hàm nên A(x)A(x) và F(x)F(x) chỉ sai khác một hằng số.

Chứng minh

Với h≠0h \neq 0, tính chất cộng đoạn cho A(x+h)−A(x)=∫xx+hf(t) dtA(x+h) - A(x) = \int_x^{x+h} f(t)\,dt. Vì ∫xx+h1 dt=h\int_x^{x+h} 1\,dt = h, ta viết được A(x+h)−A(x)h−f(x)=1h∫xx+h[f(t)−f(x)] dt\frac{A(x+h) - A(x)}{h} - f(x) = \frac{1}{h} \int_x^{x+h} [f(t) - f(x)]\,dt. Do ff liên tục tại xx, với mọi ε>0\varepsilon > 0 tồn tại δ>0\delta > 0 sao cho ∣t−x∣≤∣h∣<δ|t - x| \le |h| < \delta kéo theo ∣f(t)−f(x)∣<ε|f(t) - f(x)| < \varepsilon, suy ra ∣A(x+h)−A(x)h−f(x)∣≤ε\left|\frac{A(x+h) - A(x)}{h} - f(x)\right| \le \varepsilon, chứng tỏ A′(x)=f(x)A'(x) = f(x). Ở phần (2), (A−F)′=f−f=0(A - F)' = f - f = 0 trên [a,b][a, b] nên A(x)−F(x)=CA(x) - F(x) = C; thay x=ax = a được 0−F(a)=C0 - F(a) = C, rồi thay x=bx = b được A(b)=F(b)−F(a)A(b) = F(b) - F(a).

fˉ=1b−a∫abf(x) dx,ddx∫axf(t) dt=f(x)\bar{f} = \frac{1}{b-a}\int_a^b f(x)\,dx, \qquad \frac{d}{dx}\int_a^x f(t)\,dt = f(x)

Nếu f:[a,b]→Rf : [a, b] \to \mathbb{R} liên tục thì tồn tại ít nhất một điểm c∈(a,b)c \in (a, b) sao cho ∫abf(x) dx=f(c)(b−a)\int_a^b f(x)\,dx = f(c)(b - a). Tương đương, hàm số ff đạt giá trị trung bình fˉ=1b−a∫abf(x) dx\bar{f} = \frac{1}{b - a} \int_a^b f(x)\,dx tại một điểm trong c∈(a,b)c \in (a, b).

Vì sao đúng?

Áp dụng Định lý giá trị trung bình Lagrange cho nguyên hàm A(x)=∫axf(t) dtA(x) = \int_a^x f(t)\,dt trên [a,b][a, b]: tồn tại c∈(a,b)c \in (a, b) sao cho A(b)−A(a)=A′(c)(b−a)=f(c)(b−a)A(b) - A(a) = A'(c)(b - a) = f(c)(b - a). Về mặt hình học, hình chữ nhật có đáy b−ab - a và chiều cao f(c)f(c) có diện tích có dấu bằng đúng miền cong dưới y=f(x)y = f(x).

Chứng minh

Bước 1 — Định nghĩa hàm diện tích và áp dụng định lý cơ bản. Đặt A(x)=∫axf(t) dtA(x) = \int_a^x f(t)\,dt. Theo định lý cơ bản, ff liên tục trên [a,b][a,b] và khả vi trên (a,b)(a,b) với A′(x)=f(x)A'(x) = f(x).

**Bước 2 — Áp dụng Định lý giá trị trung bình Lagrange cho A(x)=∫axf(t) dtA(x) = \int_a^x f(t)\,dt.** Vì A(x)=∫axf(t) dtA(x) = \int_a^x f(t)\,dt liên tục trên [a,b][a,b] và khả vi trên (a,b)(a,b), tồn tại c∈(a,b)c \in (a,b) sao cho A(b)−A(a)=A′(c)(b−a)=f(c)(b−a)A(b) - A(a) = A'(c)(b-a) = f(c)(b-a). Vì A(a)=0A(a) = 0, suy ra ∫abf(x) dx=f(c)(b−a)\int_a^b f(x)\,dx = f(c)(b-a).

**Bước 3 — Kết luận ff đạt giá trị trung bình.** Chia cả hai vế cho (b−a)>0(b-a) > 0 được f(c)=1b−a∫abf(x) dx=fˉf(c) = \frac{1}{b-a}\int_a^b f(x)\,dx = \bar{f}. Theo Định lý Weierstrass, ff đạt giá trị nhỏ nhất mm và lớn nhất MM trên [a,b][a,b]; vì m≤fˉ≤Mm \le \bar{f} \le M, Định lý giá trị trung gian đảm bảo ff đạt fˉ\bar{f} tại một c∈(a,b)c \in (a,b).

Nâng caoCắt lát thể tích 3D và bước ra ngoài tích phân Riemann

Nếu một vật thể nằm giữa hai mặt phẳng vuông góc với trục xx tại x=ax = a và x=bx = b, và thiết diện tại mỗi điểm x∈[a,b]x \in [a, b] có diện tích khả tích S(x)S(x), thì thể tích của vật thể là V=∫abS(x) dxV = \int_a^b S(x)\,dx. Nói riêng, khi quay hình thang cong dưới y=f(x)y = f(x) trên đoạn [a,b][a, b] quanh trục xx, mỗi thiết diện là một hình tròn bán kính ∣f(x)∣|f(x)| có diện tích S(x)=π[f(x)]2S(x) = \pi [f(x)]^2, nên V=π∫ab[f(x)]2 dxV = \pi \int_a^b [f(x)]^2\,dx.

Vì sao đúng?

Cắt vật thể thành nn lát mỏng bề dày Δxi\Delta x_i; lát thứ ii xấp xỉ một hình trụ có diện tích đáy S(xi∗)S(x_i^*) và thể tích S(xi∗) ΔxiS(x_i^*)\,\Delta x_i. Cộng tất cả các lát lại cho ta tổng Riemann ∑i=1nS(xi∗) Δxi→∫abS(x) dx\sum_{i=1}^n S(x_i^*)\,\Delta x_i \to \int_a^b S(x)\,dx. Vì tích phân chỉ phụ thuộc vào S(x)S(x), hai vật thể bất kỳ có diện tích thiết diện bằng nhau ở mọi độ cao thì có cùng thể tích (nguyên lý Cavalieri, 1635).

Chứng minh

Bước 1 — Cắt thành các lát mỏng. Phân hoạch [a,b][a,b] thành nn đoạn con bề rộng bằng nhau Δx=(b−a)/n\Delta x = (b-a)/n. Trên đoạn con thứ ii là [xi−1,xi][x_{i-1},x_i], xấp xỉ bởi một lát diện tích đáy S(xi∗)S(x_i^*) và bề dày Δx\Delta x, thể tích S(xi∗) ΔxS(x_i^*)\,\Delta x.

Bước 2 — Lập tổng Riemann và lấy giới hạn. Cộng tất cả các lát: Vn=∑i=1nS(xi∗) ΔxV_n = \sum_{i=1}^n S(x_i^*)\,\Delta x. Vì y=f(x)y = f(x) khả tích trên [a,b][a,b], tổng này hội tụ khi n→∞n \to \infty bất kể cách chọn điểm mẫu xi∗x_i^*: V=lim⁡n→∞Vn=∫abS(x) dxV = \lim_{n\to\infty} V_n = \int_a^b S(x)\,dx.

Bước 3 — Áp dụng cho khối tròn xoay và phát biểu nguyên lý Cavalieri. Quay hình phẳng dưới y=f(x)y = f(x) quanh trục xx tạo các thiết diện bán kính ∣f(x)∣|f(x)|, diện tích S(x)=π[f(x)]2S(x) = \pi[f(x)]^2. Thay vào: V=π∫ab[f(x)]2 dxV = \pi\int_a^b [f(x)]^2\,dx. Nguyên lý Cavalieri (1635): nếu hai vật thể thỏa SA(x)=SB(x)S_A(x) = S_B(x) với mọi x∈[a,b]x \in [a,b] thì ∫abSA(x) dx=∫abSB(x) dx\int_a^b S_A(x)\,dx = \int_a^b S_B(x)\,dx, tức cùng thể tích bất kể hình dạng.

Mặt paraboloid tròn xoay 3D tương tác tạo bởi đường cong y = sqrt(x) trên đoạn [0, 4] quay quanh trục hoành, có thanh trượt điều chỉnh góc quét từ 0 đến 360 độ.
Khối tròn xoay tạo thành khi quay y=xy = \sqrt{x} trên đoạn [0,4][0, 4] quanh trục xx. Mỗi lát cắt tại xx là một hình tròn bán kính x\sqrt{x} có diện tích πx\pi x, cho thể tích V=π∫04x dx=8πV = \pi \int_0^4 x\,dx = 8\pi. Kéo thanh trượt góc quay hoặc xoay hình để quan sát mặt 3D.

Chuyện gì xảy ra khi cách cắt lát của Riemann không còn đủ? Nếu một hàm số nhảy liên tục trên một tập trù mật — chẳng hạn hàm chỉ thị Dirichlet 1Q(x)\mathbf{1}_{\mathbb{Q}}(x) trên [0,1][0, 1], bằng 11 tại số hữu tỉ và bằng 00 tại số vô tỉ — thì mọi đoạn con đều chứa cả số hữu tỉ lẫn vô tỉ, nên tổng Riemann trên luôn bằng 11, tổng Riemann dưới luôn bằng 00, và tích phân Riemann không tồn tại. Năm 1902, Henri Lebesgue giải quyết bế tắc này bằng cách chia lát miền giá trị (trục yy) thay vì miền xác định xx, rồi đo độ lớn tập các điểm xx mà f(x)≈yf(x) \approx y (xem [Lý thuyết độ đo, tích phân Lebesgue](/ly-thuyet-do-do)): vì Q\mathbb{Q} đếm được nên có độ đo Lebesgue bằng 00, kéo theo ∫[0,1]1Q dμ=0\int_{[0,1]} \mathbf{1}_{\mathbb{Q}}\,d\mu = 0, đồng thời các định lý hội tụ mạnh cho phép đưa giới hạn vào trong dấu tích phân (lim⁡∫fn=∫lim⁡fn\lim \int f_n = \int \lim f_n). Trong không gian nhiều chiều ([Tích phân bội](/tich-phan-boi)), tích phân trên đường, mặt và đa tạp được hợp nhất qua dạng vi phân và định lý Stokes tổng quát ∫∂Ωω=∫Ωdω\int_{\partial \Omega} \omega = \int_\Omega d\omega, mà công thức Newton–Leibniz ∫abdF=F(b)−F(a)\int_a^b dF = F(b) - F(a) chính là trường hợp 1 chiều.

Nghiên cứuTích phân ở biên giới nghiên cứu hiện đại

Theo công thức Newton–Leibniz, giá trị của ∫02x2 dx\int_0^2 x^2\,dx bằng bao nhiêu?

Vì sao ∫02πsin⁡x dx=0\int_0^{2\pi} \sin x\,dx = 0 dù đường cong y=sin⁡xy = \sin x giới hạn với trục xx một hình phẳng có diện tích khác không?

Cho A(x)=∫1xt3+1 dtA(x) = \int_1^x \sqrt{t^3 + 1}\,dt với x>0x > 0. Theo Định lý cơ bản của giải tích, A′(2)A'(2) bằng bao nhiêu?

Quay hình phẳng giới hạn bởi y=xy = \sqrt{x} trên đoạn [0,4][0, 4] quanh trục xx tạo thành một khối tròn xoay. Thể tích VV của khối đó là bao nhiêu?

Tài liệu tham khảo

  1. Michael Spivak (2008). Calculus
  2. James Stewart (2015). Calculus: Early Transcendentals
  3. Bernhard Riemann (1868). Ueber die Darstellbarkeit einer Function durch eine trigonometrische Reihe
  4. Carl B. Boyer (1959). The History of the Calculus and Its Conceptual Development