Math Labs

Vladimir Drinfeld

Tên theo chữ viết gốc: Володимир Дрінфельд / Владимир Дринфельд

hoạt động khoảng năm 1954, Kharkiv, CHXHCN Xô viết Ukraina, Liên Xô

Đại sốHình họcSố học và Lý thuyết sốHuy chương Fields 1990Giải thưởng Wolf về Toán học 2018Giải thưởng Thiệu Dật Phu về Khoa học Toán học 2023

Nhà toán học gốc Ukraina, người sáng lập lý thuyết nhóm lượng tử và chứng minh giả thuyết Langlands cho GL2GL_2 trên trường hàm; Huy chương Fields 1990, giải Wolf 2018, giải Shaw 2023.

Vladimir Gershonovich Drinfeld sinh năm 1954 tại Kharkiv trong một gia đình các nhà toán học và đoạt giải olympic toán Liên Xô năm mười lăm tuổi. Ông học tại Đại học Quốc gia Moskva dưới sự hướng dẫn của Yuri Manin, nhận bằng tiến sĩ năm 1977, rồi trở về Viện Vật lý Nhiệt độ Thấp Verkin ở Kharkiv, nơi ông gắn bó gần hai thập kỷ bất chấp những ràng buộc của đời sống học thuật Xô viết.

Vào đầu những năm 1980, trong khi nghiên cứu phương pháp tán xạ nghịch lượng tử, Drinfeld định nghĩa cái nay được gọi là nhóm lượng tử và chứng minh giả thuyết Langlands cho GL2GL_2 trên trường hàm nhờ các 'shtuka'. Những đóng góp này được ghi nhận bằng Huy chương Fields tại ICM 1990 ở Kyoto — ở tuổi 36 ông thuộc nhóm người trẻ nhất nhận giải. Ông cũng có những đóng góp quyết định vào phân loại các mô hình giải được chính xác, các đại số affine lượng tử, và sau đó (cùng Alexander Beilinson) chương trình Langlands hình học và lý thuyết đại số chiral.

Sau khi Liên Xô tan rã, Drinfeld chuyển sang Đại học Chicago năm 1999, nơi ông giữ ghế Giáo sư Danh dự Harry Pratt Judson. Công trình sau này của ông gồm đóng góp vào các phạm trù vi phân cấp thang, các cấu trúc kiểu prismatic cho chương trình Langlands, và lý thuyết stack đại số trên trường hàm.

Nơi làm việc: Viện Vật lý và Kỹ thuật Nhiệt độ Thấp Verkin, Kharkiv, Đại học Chicago

Ukraina, Hoa Kỳ

Công trình đoạt giải

Huy chương Fields 1990Drinfeld đã đưa ra các nhóm lượng tử — các phép biến dạng của đại số bao phổ dụng, nay được gọi là nhóm lượng tử hay đại số bao lượng tử hóa — xuất phát từ phương pháp tán xạ nghịch lượng tử và phương trình Yang–Baxter. Khái niệm đại số Hopf giả tam giác và cấu trúc nhân đôi lượng tử của ông cho một nguồn gốc đại số hệ thống của các nghiệm phương trình Yang–Baxter và một khái niệm đối xứng mới thống nhất lý thuyết Lie với các phạm trù tensor bện. Song song, ông chứng minh giả thuyết Langlands cho GL2GL_2 trên trường hàm nhờ các 'shtuka', các đối tượng mô đun do chính ông phát minh, về sau trở thành trung tâm của chương trình Langlands hiện đại. Huy chương ghi nhận công trình đã tạo ra hai lĩnh vực trọn vẹn: nhóm lượng tử và tương ứng Langlands trên trường hàm/hình học.
Giải thưởng Wolf về Toán học 2018Đồng nhận với Alexander Beilinson cho công trình đột phá về chương trình Langlands hình học và hình học đại số.
Giải thưởng Thiệu Dật Phu về Khoa học Toán học 2023Đồng nhận với Shing-Tung Yau cho những đóng góp liên quan đến vật lý toán, hình học số học, hình học vi phân và hình học Kähler.

Đóng góp, liên kết tới thư viện