Math Labs

Simon Donaldson

hoạt động khoảng năm 1957, Cambridge, Anh

Tô pôHình họcPhương trình vi phân và Hệ động lựcHuy chương Fields 1986Giải thưởng Crafoord về Toán học 1994Giải thưởng Thiệu Dật Phu về Khoa học Toán học 2009Giải thưởng Đột phá về Toán học 2015Giải thưởng Wolf về Toán học 2020

Nhà toán học Anh, người khai lập lý thuyết đa tạp bốn chiều trơn qua các bất biến Donaldson từ lý thuyết chuẩn, về sau chứng minh sự tồn tại metric Kähler độ cong vô hướng hằng trên đa tạp Fano toric.

Simon Kirwan Donaldson sinh ngày 20 tháng 8 năm 1957 tại Cambridge, Anh. Ông học tại Pembroke College, Cambridge, rồi học thêm một năm tại Worcester College, Oxford, trước khi làm nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của Michael Atiyah và Nigel Hitchin. Luận án năm 1983 của ông về liên kết phản tự đối ngẫu lập tức làm thay đổi tô pô bốn chiều; ông trở thành thành viên All Souls College, giáo sư tại Oxford, chuyển sang Imperial College London năm 1998, và được phong tước hiệp sĩ năm 2012.

Lý thuyết instanton của Donaldson cho thấy cấu trúc trơn ở bốn chiều chứa thông tin mà tô pô không nhìn thấy: định lý về dạng giao chéo hóa được của ông, cùng với phân loại của Freedman, suy ra rằng R4\mathbb{R}^4 có vô hạn đếm được nhiều cấu trúc trơn kỳ dị. Cùng Uhlenbeck, ông chứng minh mọi chùa chỉnh hình ổn định trên đa tạp Kähler compact đều có liên kết Yang–Mills Hermite — định lý Donaldson–Uhlenbeck–Yau — nối tính ổn định đại số với hình học vi phân. Từ cuối thập niên 1990 ông phát triển giả thuyết tương đương giữa K-ổn định của đa tạp Fano và sự tồn tại metric Kähler–Einstein, chứng minh cho mặt và đa tạp Fano toric trơn; trường hợp tổng quát được Chen–Donaldson–Sun giải quyết trong 2012–2014, chốt giả thuyết Yau–Tian–Donaldson.

Từ 2014 ông chia thời gian giữa Imperial College London và Trung tâm Simons về Hình học và Vật lý tại Đại học Stony Brook. Các giải thưởng của ông gồm Huy chương Fields (1986), giải Crafoord (1994, chia sẻ với Yau), giải Shaw (2009, cùng Clifford Taubes), giải Breakthrough về Toán học khóa đầu tiên (trao 2014 cho năm 2015) và giải Wolf (2020, cùng Yakov Eliashberg).

Nơi làm việc: Imperial College London, Trung tâm Simons về Hình học và Vật lý, Đại học Stony Brook, Đại học Oxford

Vương quốc Anh

Công trình đoạt giải

Huy chương Fields 1986Vì việc dùng lý thuyết chuẩn để nghiên cứu tô pô của đa tạp bốn chiều. Donaldson phân tích không gian moduli của các liên kết Yang–Mills phản tự đối ngẫu (instanton) trên đa tạp trơn 4 chiều và rút ra từ đó các bất biến Donaldson, chứng minh dạng giao xác định của đa tạp trơn đơn liên 4 chiều phải chéo hóa được trên số nguyên — một ràng buộc không có đối ứng trong phạm trù tô pô. Kết hợp với phân loại tô pô của Michael Freedman, điều này suy ra sự tồn tại cấu trúc trơn kỳ dị trên R4\mathbb{R}^4 và mở ra ngành lý thuyết đa tạp bốn chiều trơn — sau đó lại được cách mạng hóa bởi phương trình Seiberg–Witten mà khung của ông đã báo trước.

Đóng góp, liên kết tới thư viện