Math Labs

Vaughan Jones

1952–2020, Gisborne, New Zealand

Giải tíchTô pôHuy chương Fields 1990

Nhà toán học New Zealand, người sáng lập lý thuyết nhân tử con và phát hiện bất biến nút đa thức Jones; nhận Huy chương Fields năm 1990.

Vaughan Frederick Randal Jones sinh năm 1952 tại Gisborne, New Zealand, học tại Đại học Auckland trước khi nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Geneva năm 1979 dưới sự hướng dẫn của André Haefliger, về lý thuyết chỉ số của các đại số von Neumann. Sau các vị trí tại Hoa Kỳ, ông ổn định tại Đại học California, Berkeley, từ năm 1985.

Năm 1983 Jones chứng minh rằng chỉ số của một nhân tử con của một nhân tử II1II_1 hoặc ít nhất bằng 4, hoặc nằm trong dãy rời rạc 4cos⁡2(π/n)4\cos^2(\pi/n) — các giá trị thực sự đều đạt được. Phân tích các tháp đại số sinh ra khi lặp phép dựng cơ bản, ông đi tới một biểu diễn nhóm tết mà, kết hợp với vết Markov, cho ra năm 1984 đa thức Jones: một bất biến mối liên kết có sự ra đời làm sốc lại lý thuyết nút và, qua công trình của Witten, Reshetikhin–Turaev và Khovanov, mở ra toàn bộ lĩnh vực tô pô lượng tử.

Jones nhận Huy chương Fields tại ICM 1990 ở Kyoto, nổi tiếng là mặc áo đội bóng bầu dục All Blacks trong buổi lễ. Sau đó ông chuyển sang Đại học Vanderbilt, sáng lập Viện Nghiên cứu Toán học New Zealand, và tiếp tục nghiên cứu nhân tử con, đại số phẳng và mối liên hệ của chúng với lý thuyết trường conform cho tới khi mất năm 2020.

Nơi làm việc: Đại học California, Berkeley, Đại học Vanderbilt

New Zealand, Hoa Kỳ

Công trình đoạt giải

Huy chương Fields 1990Jones đã phát hiện định lý chỉ số cho các nhân tử con của đại số von Neumann: chỉ số của một nhân tử con kiểu II1II_1 bị ràng buộc vào tập rời rạc {4cos⁡2(π/n)}\{4\cos^2(\pi/n)\} dưới 4, một tính cứng hoàn toàn bất ngờ. Truy theo tháp đại số đi kèm, ông đi tới một biểu diễn của nhóm tết và, qua cấu trúc vết Markov, tới đa thức Jones VL(t)V_L(t) — một bất biến mới của nút và mối liên kết, tính được bằng một hệ thức skein đơn giản, phân biệt được những nút mà mọi bất biến trước đó không tách được. Bất biến này và các hậu duệ của nó (qua đồng luân Khovanov, TQFT và nhóm lượng tử) đã định hình lại tô pô chiều thấp và tạo ra lĩnh vực tô pô lượng tử. Huy chương cũng ghi nhận lý thuyết nhân tử con nền tảng của ông, về sau được chứng minh mã hóa các lý thuyết trường lượng tử tô pô và lý thuyết trường conform.

Đóng góp, liên kết tới thư viện